TẠI SAO CUỘC CHIẾN CỦA ÔNG TRUMP QUANH EO BIỂN HORMUZ LẠI PHẢN TÁC DỤNG
Bài phân tích của Trita Parsi trên Telepolis: Dự trữ dầu ở mức thấp, bầu cử giữa nhiệm kỳ ở Mỹ, chỉ còn bốn tháng nữa: Thỏa thuận Mỹ-Iran coi như đã đổ vỡ, trong khi ông Trump gần như chẳng thu được mấy lợi ích.
Trên thực tế, "Bản ghi nhớ về (một sự hiểu lầm) chung" (MoU) giữa Mỹ và Iran đã chấm dứt. Tranh chấp về cách quản trị tạm thời eo biển Hormuz đã đẩy cả hai bên trở lại tình trạng xung đột công khai. Nhưng rốt cuộc thì để đạt được mục đích gì?
Sự chấm dứt của thỏa thuận Hormuz
Ít có cơ sở để tin rằng một đợt giao tranh nữa có thể thay đổi các điều kiện cơ bản đủ để xoay chuyển thực tế mà cả hai bên buộc phải dựa vào đó khi đàm phán sau này. Hy vọng rằng, sự sụp đổ của Bản ghi nhớ (MoU) có thể dẫn đến một vòng đàm phán mới, nơi mà cám dỗ tạo ra các sự đã rồi bằng vũ lực cuối cùng cũng phai nhạt.
Tranh chấp về eo biển này xoay quanh, ít nhất là trên bề mặt, Điều khoản số 5 của MoU: cụ thể là liệu Iran có chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn cho tàu bè đi qua toàn bộ eo biển trong thời hạn thỏa thuận hay không?, hay chỉ chịu trách nhiệm đối với hành lang phía bắc của tuyến đường thủy này.
Tuy nhiên, ẩn sâu bên dưới là một xung đột chiến lược mang tính nền tảng hơn. Ngay cả trước khi MoU được ký kết, Tehran đã tin chắc rằng mục tiêu của Washington là thiết lập một hành lang vận tải phía nam đi qua vùng biển của Oman. Điều này sẽ dần làm suy yếu quyền kiểm soát của Iran đối với eo biển.
Tranh chấp về Điều khoản số 5
Một hành lang như vậy đòi hỏi sự hợp tác của Oman. Điều này có thể giải thích tại sao đôi khi ông Trump đe dọa ném bom Oman nếu nước này từ bỏ đề nghị của ông về việc cùng quản lý eo biển, một cơ chế mà theo đó Muscat và Teheran sẽ cùng thu phí hành chính.
Hành lang này vẫn sẽ hoạt động ngay cả khi chiến tranh bùng phát trở lại và Iran cố gắng đóng cửa eo biển một lần nữa. Từ góc nhìn của Teheran, Washington đã lợi dụng MoU để củng cố tuyến đường thay thế này.
Việc quân đội Mỹ hộ tống các tàu thương mại mà không phối hợp với Iran đánh dấu một bước tiến quan trọng theo hướng này. Nếu thành công, chiến lược này sẽ tước bỏ đòn bẩy quan trọng nhất của Iran, và chính vì lý do đó mà nó trở nên vô cùng hấp dẫn đối với Washington.
Hệ quả là, Teheran khăng khăng yêu cầu tất cả các tàu bè đi qua eo biển, bất kể sử dụng hành lang nào, đều phải phối hợp việc di chuyển với Iran. Điều này phù hợp với cách diễn giải của Iran về Khoản 5 của bản ghi nhớ (MoU). Ngược lại, Washington lập luận rằng bản ghi nhớ chỉ giao cho Iran trách nhiệm bảo đảm sự an toàn cho tàu thuyền thương mại đi qua, chứ không trao cho nước này quyền kiểm soát hoạt động đối với toàn bộ lưu thông hàng hải.
Trước lễ tang của cố Lãnh tụ Tối cao Ayatollah Khamenei, hai bên đã xem xét một giải pháp thỏa hiệp, qua đó các tàu thuyền sẽ phối hợp lộ trình với cả Iran và một quốc gia được chỉ định thuộc Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC). Như đã phân tích trên trang Substack của mình: "Với cơ chế này, các tàu sẽ thông báo cho Teheran đồng thời báo cáo với cơ quan hàng hải của GCC; qua đó cân bằng giữa yêu cầu giám sát của Iran và mong muốn của Washington là không trao cho Teheran quyền kiểm soát độc quyền."
Tuy nhiên, chưa có thỏa thuận nào đạt được trước khi các nỗ lực ngoại giao bị gián đoạn bởi thời gian để tang.
Ba đề nghị tại Muscat
Các thông tin về những gì đã diễn ra tại Muscat vào cuối tuần qua tất nhiên có sự khác biệt, nhưng có ba đề nghị đã được đưa ra. Iran đề xuất một biến thể của phương án thỏa hiệp trước đó: hệ thống báo danh kép dành cho tất cả các tàu thuyền đi qua eo biển. Qatar đề nghị 3 hành lang: một hành lang của Iran ở phía bắc, một của Oman ở phía nam và một hành lang trung lập ở giữa. Teheran không chấp nhận phương án này vì nó sẽ đưa eo biển trở lại trạng thái như trước tháng Hai.
Theo phía Teheran, Mỹ và Oman ủng hộ việc điều hành riêng biệt các hành lang của Iran và Oman: Iran có thể yêu cầu sự phối hợp đối với các tàu thuyền đi trong hành lang của mình, trong khi hành lang của Oman vẫn không bị hạn chế.
Teheran coi đây là nỗ lực nhằm chính thức hóa điều mà họ từ lâu nghi ngờ là chiến lược của Washington: tạo ra một hành lang phía nam đi qua eo biển nằm ngoài tầm ảnh hưởng của Iran, qua đó tước bỏ mọi phương tiện để Teheran có thể thách thức hành lang này, trừ khi xảy ra chiến tranh với Oman. Iran cũng cho rằng Muscat chỉ đưa ra đề nghọ này dưới áp lực mạnh mẽ từ Mỹ, đồng thời lưu ý rằng trước đó Oman từng ủng hộ hệ thống điều hành chung.
Washington bác bỏ thông tin này. Các quan chức Mỹ nhấn mạnh rằng họ cởi mở với nhiều mô hình khác nhau, miễn là các tàu thương mại có thể đi qua eo biển một cách an toàn.
Từ góc độ của Mỹ, các cuộc đàm phán đã đổ vỡ sau khi Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi tham vấn Teheran về một tuyên bố chung giữa Iran và Oman nhằm công bố việc mở cửa eo biển. Quan điểm của Mỹ là các cuộc đàm phán đang tiến triển thuận lợi cho đến khi ông Araghchi bị phủ quyết bởi phe cứng rắn trong Lực lượng Vệ binh Cách mạng, những người ưu tiên đối đầu hơn là thỏa hiệp.
Lập luận của Teheran
Vẫn chưa rõ liệu sự rạn nứt nội bộ này có phải là yếu tố quyết định trong trường hợp này hay không?. Tuy nhiên, rõ ràng là quan điểm của các nhà hoạch định chiến lược Iran đã trở nên cứng rắn hơn đáng kể trong những tuần gần đây, khi họ ngày càng tin rằng ông Trump có ý định tái khởi động chiến tranh. Một số diễn biến đã củng cố nhận định này:
Thứ nhất, giọng điệu của ông Trump đã thay đổi mạnh mẽ. Ông gọi người Iran là "cặn bã", tuyên bố chấm dứt lệnh ngừng bắn và khẳng định có thể nối lại các cuộc ném bom để "hoàn tất công việc".
Thứ hai, Teheran tin rằng, như tôi đã từng lập luận, Washington chính là bên dàn xếp thỏa thuận giữa Ltbanon và Israel. Thỏa thuận này mâu thuẫn với Biên bản ghi nhớ (MoU) giữa Mỹ và Iran, vì nó gắn việc Israel rút quân khỏi Libanon với việc giải giáp lực lượng Hisbollah. Thỏa thuận này nhằm mục đích cho phép Israel nắm giữ các vị trí then chốt, qua đó làm suy yếu khả năng hỗ trợ Iran của Hisbollah trong cuộc chiến sắp tới.
Thứ ba, các quan chức White House đã tiết lộ yêu cầu của Mỹ, trong đó đòi hỏi Teheran phải duy trì sự thông suốt của eo biển và, ít nhất là ngầm thừa nhận, chịu trách nhiệm về các vụ tấn công tàu thuyền. Thay vì coi đây chỉ là chiêu trò chính trị nhằm xây dựng hình ảnh cứng rắn cho ông Trump, Teheran ngày càng nhìn nhận vụ rò rỉ thông tin này như một nỗ lực có chủ đích nhằm phá hoại đàm phán và đẩy cuộc khủng hoảng trở lại thế đối đầu quân sự.
Tổng hợp lại, những diễn biến này khiến Teheran tin rằng Washington đang chuẩn bị tái phát động chiến tranh. Từ góc độ đó, lựa chọn tối ưu của Iran là lập tức đóng cửa eo biển. Thay vì cố gắng giành thêm nhượng bộ hay mạo hiểm đi quá xa, quyết định của Teheran dường như xuất phát từ nỗi lo mất đi lợi thế đàm phán quan trọng nhất trước khi giao tranh nổ ra.
Áp lực lên kho dự trữ dầu: Thời gian không còn nhiều đối với ông Trump
Tuy nhiên, có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy một đợt xung đột mới sẽ không làm thay đổi căn bản thực tế tại hiện trường hay cán cân quyền lực giữa Mỹ và Iran. Đặc biệt, xét đến các yếu tố kinh tế, chính trị và thậm chí cả quân sự, thời gian đang không ủng hộ ông Trump.
Xét theo hầu hết các chỉ số liên quan, tình trạng kho dự trữ dầu toàn cầu hiện nay yếu hơn nhiều so với thời điểm trước khi xung đột nổ ra vào tháng Hai. Kể từ cuối tháng Hai, lượng dầu dự trữ toàn cầu được ghi nhận đã giảm khoảng 360 đến 370 triệu thùng; sau bản ghi nhớ (MoU) giữa Mỹ và Iran, chỉ có khoảng 21 triệu thùng được bổ sung, tức là chưa đầy 5% khối lượng đã mất do xung đột.
Quan trọng hơn, sự phục hồi bề ngoài này thực chất thể hiện lượng dầu đang trong quá trình vận chuyển hơn là sự bổ sung thực sự vào kho dự trữ: khối lượng dầu trên biển đã tăng 117 triệu thùng, trong khi lượng dầu dự trữ trên đất liền lại giảm 96 triệu thùng. Riêng trong tháng Sáu, kho dự trữ tại các nước OECD đã giảm thêm 62 triệu thùng, bao gồm khoảng 44 triệu thùng được lấy từ kho dự trữ khẩn cấp của chính phủ.
Bản thân nước Mỹ cũng sẽ bước vào một cuộc xung đột tiềm tàng mới với lớp đệm chiến lược mỏng hơn nhiều. Lượng dầu dự trữ đã giảm từ khoảng 415 triệu thùng trước xung đột xuống còn khoảng 337 triệu thùng. Các kho dự trữ dầu thô thương mại, xăng và nhiên liệu chưng cất vẫn ở mức thấp hơn so với mức trung bình theo mùa trong 5 năm qua. Hệ quả là, Washington có ít dư địa hơn nhiều so với hồi tháng Hai để giảm thiểu tác động của một đợt gián đoạn lớn khác đối với dòng chảy dầu toàn cầu.
Vẫn là thế bế tắc như hồi tháng Hai, nhưng với lớp đệm an toàn mỏng hơn
Hơn nữa, Mỹ chỉ còn cách cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ bốn tháng, điều này làm giảm đáng kể khả năng chống chịu về mặt kinh tế và chính trị của ông Trump.
Hồi tháng Hai, chính quyền vẫn có thể lập luận rằng cú sốc giá dầu chỉ là tạm thời và giá cả sẽ bình ổn trở lại trước khi bầu cử diễn ra. Tuy nhiên, một cuộc xung đột tái bùng phát sẽ đẩy những hậu quả kinh tế dễ thấy nhất của nó trực tiếp vào chiến dịch tranh cử: giá xăng, lạm phát và lãi suất tăng cao, cùng với chi phí thực phẩm, đi lại bằng đường hàng không, vận tải và năng lượng cũng leo thang.
Như một nguồn tin từ Pentagon đã chia sẻ vào năm ngoái, Iran đang chế tạo hỏa tiễn nhanh hơn tốc độ Mỹ sản xuất các hệ thống đánh chặn. Và trong khi Washington phải phân tán sự chú ý cũng như nguồn lực cho nhiều mặt trận, từ Ukraine đến Đài Loan, thì Iran chỉ tập trung vào một mặt trận duy nhất. Hệ quả là, nếu có đủ thời gian, Hoa Kỳ thực sự có thể làm suy yếu khả năng đe dọa hoạt động vận tải biển tại Vịnh Ba Tư của Iran. Tuy nhiên, khó có cơ sở để tin rằng họ có thể đạt được điều đó trước khi những cái giá phải trả về mặt kinh tế và chính trị trở nên quá sức chịu đựng đối với ông Trump. Về cơ bản, đây cũng chính là thực tế chiến lược mà ông từng đối mặt hồi tháng Hai. Điểm khác biệt là vào thời điểm đó, ông chưa có được cái nhìn thấu đáo từ những gì đã diễn ra sau này. Giờ đây ông đã có được góc nhìn đó, nhưng dường như điều này chẳng hề thay đổi được gì.
Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 15-7-2026
Keine Kommentare:
Kommentar veröffentlichen