Sonntag, 28. März 2021

GIẶC TỪ MIỀN BẮC VÔ ĐÂY!!

(Cục chính huấn VNCH)

Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay dính máu đồng bào

Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay vấy máu anh em.

Hận thù đó! chất cao trong lòng người
Hận thù đó! chất cao trong lòng tôi, lòng anh

Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay chiến tích hận thù
Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay giết chóc hôi tanh.

Giặc cờ đỏ: Xâm lăng.
Giặc cờ đỏ: Bạo tàn.
Giặc cờ đỏ giết hại dân lành đốt phá quê hương

DK: Ôi vùng Trị Thiên, An Lộc, vùng Tam Biên
lửa máu từ rừng sâu ngụt trời
Dòng máu đỏ da vàng, trên đất nghèo nàn đã đổ vì ai

Kìa giặc thù đốt phá quê hương ta
Kìa giặc thù bắn giết đồng bào ta
Kìa giặc thù còn đó !
Kìa giặc thù còn đó !

Anh em ơi vùng lên diệt Bạo Tàn
Anh em ơi vùng lên diệt Áp Bức
Anh em ơi nước có còn ta mới còn

Còn Tự Do là còn cơm no.




Mùa quốc hận 2021 (28.03.2021)

 HÃY TRẢ LẠI TÔI TÊN GỌI SÀI GÒN

( sáng tác của Việt Dzũng)

Hãy trả lại tôi tên gọi Saigon. Tên phố tn phường tôi đã nghe quên. Hòn ngọc Viễn Đông vang vọng một thời. Saigon dấu yêu còn đầy kỷ niệm. Mãi mãi muôn đời không thể thay tên. Hãy trả lại tôi tên gọi ngọt ngào. Tên những con đường tôi đã đi qua. Tên những công viên rì rào lá đổ, nhớ thành phố xưa một thời náo nhiệt. Du khách xuôi ngược ngắm hoa ngày xuân.

Hãy trả lại tôi tên gọi Saigon. Nhà thờ Đức Bà vang tiếng chuông ngân. Chu văn An, Gia Long, Trưng Vương, tên những ngôi trường bạn bè thân thương. Những buổi tan trường ta đến tìm nhau. Hãy trả lại tôi Công Lý, Tự Do. Chùa Vĩnh Nghiêm hương khói uy nghi. Đây Trương Vương, Văn Khoa ngày ấy. Hãy trả lại tôi, hãy trả lại tôi Saigon dấu yêu.

Hãy trả lại tôi bến cảng Bạch Đằng. Nơi những con tầu rẽ sóng ra khơi. Một ngày tháng 4 khói lửa ngập trời. Tượng buồn đứng yên hẹn ngày trở lại. Ta sẽ quay về trong ánh vinh quang.

Hãy trả lại tôi tên gọi Saigon. Nhà thờ ức Bà vang tiếng chuông ngân. Chu văn An, Gia Long, trường Luật tên những ngôi trường bạn bè thân thương. Những buổi tan trường ta đến tìm nhau. Hãy trả lại tôi Công Lý, Tự Do. Chùa Vĩnh Nghiêm hương khói uy nghi. Đây Trương Vương, Văn Khoa ngày ấy. Hãy trả lại tôi, hãy trả lại tôi Saigon dấu yêu.

Hãy trả lại tôi bến cảng Bạch Đằng. Nơi những con tầu rẽ sóng ra khơi. Một ngày tháng 4 khói lửa ngập trời. Tượng buồn đứng yên hẹn ngày trở lại. Ta sẽ quay về trong ánh vinh quang. Saigon dấu yêu còn đầy kỷ niệm. Ta sẽ quay về trong ánh vinh quang.


Samstag, 27. März 2021

                           NHỮNG NGƯỜI TRAI HÙNG CỦA MIỀN NAM.

Trước 1975 những người chiến sĩ VNCH từng là những công nhân viên chức, những nông dân chất phác hiền hòa, hay là những sinh viên học sinh...Tất cả đã phải từ giả người thân, bè bạn, luôn cả một tương lai phía trước, để sớm bước vào quân ngũ, trước tình hình chiến sự gia tăng mổi ngày một khốc liệt hơn từ những năm bắt đầu của nền đệ nhị công hòa,,,
Sơn hà nguy biến là một mệnh lệnh lên đường cho các chàng trai miền nam VN... Để bắt đầu dấn thân vai trò bảo quốc an dân,chống lại sự xâm nhập của cộng sản Bắc Việt cho đến ngày bị đồng minh minh HK phản bội vì quyền lợi của quốc gia của họ.
Đời người lính không gì bẻ bàng hơn là hết đạn, trong lúc đối phương nhận được quá nhiều chiến cụ để tiếp tục phá hoại miền nam, đưa đến việc miền nam rơi vào tay giặc cướp.
Đến 30.4.1975, họ đã làm hết bổn phận của một người chiến sĩ VNCH, không ai có thể trách được họ vì đã để miền nam rơi vào tay giặc...Tuy là phe thua cuộc, nhưng những người trai hùng của miền nam, đều được người dân kính trọng và quí mến.


Vai trò lịch sử của VNCH đã sang trang với những uẩn khúc đau buồn đầy nước mắt...
Chúng tôi, những hậu duệ VNCH, rất trân trọng sự hy sinh đó, hàng năm đến tháng tư chúng tôi viết để vinh danh và cảm ơn sự công đức của các chiến sĩ VNCH, các công chức, cán bộ trong bộ máy công quyền của VNCH, không quên thắp nén tâm hương gửi đến những người đã nằm xuống trên đất mẹ VN, để giử gìn tự do và hạnh phúc cho miền nam VN.
Cảm ơn anh! Cảm ơn anh những quân cán chính VNCH!!!
Hậu Duệ VNCH Lê Kim Anh 27.03.2021

 ĐẠI HỌC CHIẾN TRANH CHÍNH TRỊ "DI TẢN"

Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh, trong tư cách cựu Chỉ huy trưởng trường Đại Học CTCT Đà Lạt, năm 2002, đã viết bài hồi ký sau đây kể lại cuộc di tản của hai Quân trường Đà Lạt (Võ Bị và CTCT) và Tiểu khu Tuyên Đức, vào cuối tháng 3, 1975. Bài đã được đăng trong Đặc san Ức Trai (Tổng Hội ĐH/CTCT) số Đặc Biệt 30-4 năm 2002. Nhân kỷ niệm ngày Quốc Hận năm nay, chúng tôi hân hạnh được giới thiệu cùng quý độc giả bài hồi ký do Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh viết đã mười lăm năm.


Chỉ còn vài ngày nữa là Tết Nhâm Ngọ 2002 khi tôi viết về cuộc hành quân “di tản” Đại Học CTCT, quân trường rất quý mến, tôi được vinh dự chỉ huy, tái phối trí từ Đà Lạt (31/3/75) về Vùng 3 Chiến Thuật (V3CT), Tam Hiệp (8/4/75), Sài Gòn (29/4/75). Thấm thoát đã 27 mùa xuân, sắp bước sang một Xuân mới.

Dùng từ “di tản” trong ngoặc kép tôi muốn bày tỏ ý kiến riêng, “di tản” là cách nói miệng, không phải từ ngữ trong lệnh chuyển quân, nhưng là lối nói phổ biến trong truyền thông, báo chí của thời điểm QLVNCH buông súng chống Cộng. Buông súng vì đồng minh phản bội: thỏa hiệp ngầm với kẻ thù, rút quân, cắt viện trợ vũ khí, đạn dược, xăng dầu, ngưng oanh tạc Cộng sản bằng B52 và nhất là thỏa thuận cho Cộng sản ở lại miền Nam sau Hiệp định 27/1/1973, làm ngơ cho chúng công khai chuyển quân xuống miền Nam giữa ban ngày trong khi chúng được Liên Sô, Trung Cộng tăng viện mọi mặt.

Tình hình đầu Xuân Ất Mão 1975

Đầu năm 1975, sau khi quân đội Cộng sản chiếm Phước Long, Ban Mê Thuột, tình hình quân sự của VNCH xấu dần. Các tỉnh địa đầu Quảng Trị, Thừa Thiên lần lượt rơi vào tay Cộng sản. Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi không còn. Các đơn vị thuộc Quân Đoàn I, Vùng I Chiến Thuật rã ngũ về Cam Ranh, Hàm Tân. Quân Đoàn II, V2CT chuyển quân qua Phú Bổn về Qui Nhơn, Tuy Hòa theo Liên tỉnh lộ 7B, Bộ Tư Lệnh tái phối trí tại Nha Trang. Quảng Đức, Lâm Đồng bỏ trống, Tuyên Đức, Đà Lạt trong thế cô đơn, không được chỉ thị nào của Bộ Tổng Tham Mưu hay Quân Đoàn II, cũng phải theo số phận các tỉnh lân cận. Thiếu tướng Lâm Quang Thơ, chỉ huy trưởng trường Võ Bị Quốc Gia (VBQG), triệu tập phiên họp ba người gồm Thiếu tướng Thơ, Đại tá Nguyễn Hợp Đoàn, tỉnh trưởng Tuyên Đức kiêm Thị trưởng Đà Lạt, và tôi, Chỉ huy trưởng trường Đại Học CTCT, kiểm điểm tình hình, thảo luận việc phòng thủ Đà Lạt, di chuyển về V3CT khi cần.

Quyết định rời Đà Lạt, tái phối trí tại Bình Tuy (Hàm Tân)

Hai ngày sau, phiên họp thứ hai tại Trường VBQG tái nhóm. Kiểm điểm tình hình: Không liên lạc được với các thẩm quyền Bộ Tổng Tham Mưu (TTM), Tổng Tham Mưu Trưởng, Tham Mưu Trưởng Liên Quân, và QĐ II, V2CT, Tư Lệnh Vùng, Tham Mưu Trưởng, mất liên lạc với Quảng Đức, Lâm Đồng đã di tản. Quyết định: Đà Lạt, Tuyên Đức, và các đơn vị quân trường trú đóng, trường VBQG, trường ĐH/CTCT di chuyển về V3CT. Trường VBQG chuyển Sinh Viên Sĩ Quan (SVSQ), lực lượng cơ hữu tới các vị trí cao độ chung quanh quận Đơn Dương trong ngày 31 tháng 3 bảo vệ các đơn vị Địa phương quân, Nghĩa quân, Chính quyền Đà Lạt, Tuyên Đức; trường ĐH/CTCT và các thành phần trường VBQG còn lại chuyển quân. Giờ G: chạng vạng tối 31. Mật lệnh: VC tấn công thị xã Đà Lạt.

Không tin vào ngày giờ tốt xấu hoặc cái khâu, cái mốc trong chu kỳ hàng năm sinh hoạt của trường ĐH/CTCT nhưng SVSQ, sĩ quan tu nghiệp các khóa căn bản, trung cao cấp CTCT và quân nhân cơ hữu, nhân viên dân chính quốc phòng đều phập phồng lo âu trước ngày 1 tháng 4 mỗi năm, vì 1 tháng 4 năm 1970 trường bị Cộng sản tấn công, tổn thất nhân mạng: 4 quân nhân cơ hữu, 4 SVSQ, 17 sĩ quan khóa sinh tuyên úy. Ngày 1 tháng 4 những năm kế tiếp thường có những việc không may xảy đến: xe lật, SVSQ bị thương tích khi thực tập quân sự hoặc thể dục thể thao.

Rời bỏ quân trường thân yêu, đồi 4648 vị trí tiên khởi, đồi 4650 vị trí kế tiếp (nguyên cơ sở trú đóng của trường Chỉ Huy Tham Mưu trước khi rời về Long Bình) cũng đêm 31 tháng 3 rạng 1 tháng 4, 1975.

Từ 15 tháng 3, 1975, gia đình quân nhân cơ hữu từ sĩ quan đến hạ sĩ quan, binh sĩ, nhân viên quốc phòng đã được khuyến cáo di tản về Sài Gòn và các tỉnh phía Nam bằng phương tiện tự túc: hàng không, đường bộ cùng với đồng bào Đà Lạt, lúc đó đã hoang mang tột độ. 21 giờ tối 29 tháng 3, phóng viên đài Quân Đội điện thoại cho tôi xin phỏng vấn. Tôi hỏi:

– Anh lên đây, hay ngay bây giờ qua điện thoại?

– Ngay bây giờ.

– Tôi không có thẩm quyền vì chỉ là chỉ huy một quân trường trú đóng tại Đà Lạt.

– Không sao! Vì chúng tôi chỉ xin biết trường ĐH/CTCT còn ở Đà Lạt không hay đã di tản?

– Tôi vẫn ở đây, đang nói chuyện với anh và tham gia với trường Võ Bị Quốc Gia, các lực lượng Tuyên Đức bảo vệ Đà Lạt.

– Xin cám ơn.

Sáng hôm sau, 30 tháng 3 tham dự phiên tái nhóm với Thiếu tướng Thơ, Đại tá Đoàn. Quyết định của vị chủ tọa: di chuyển tái phối trí tại V3CT. Tôi băn khoăn về câu trả lời phóng viên Đài Tiếng Nói Quân Đội. Sự thực, tôi vẫn còn ở Đà Lạt vì lòng còn muốn bảo vệ thành phồ duyên dáng này, nhưng chưa tới 24 tiếng đồng hồ, tình thế đã khác hẳn.

Trưa ngày 31, tôi đang dùng cơm, mấy bà con thân hữu tại Đà Lạt đến thăm, dò hỏi hai quân trường: “Võ Bị, CTCT có rời Đà Lạt không?” – “Tôi còn ở đây, các ông có thấy gì khác lạ trong nhà tôi không?” Trấn an các thân hữu hoang mang, bối rối, nhưng chính mình cũng không khỏi suy nghĩ mông lung. “Chuyển quân, rút quân” phải bí mật, bất ngờ, kín đáo. Không thể tiết lộ với thân hữu được vì trách nhiệm chỉ huy, vì bảo vệ an ninh cho quân trường với bao nhiêu sinh mạng trong tay, hớ hênh để CS nằm vùng biết rõ chi tiết di tản thì vô cùng nguy hiểm. Lui binh, rút quân trên bình diện chiến lược quy mô lớn, chuyển quân, tái phối trí trên phạm vi chiến thuật nhỏ cũng đều tôn trọng các yếu tố: Kín Đáo, Bí Mật, Bất Ngờ. Vì vậy các chiến hữu gần gũi tôi nhất trong giờ phút chót chuyển quân, rời Đà Lạt, tái phối trí cũng không biết quân trường có di tản hay không, và nếu có thì lúc nào? Vào buổi sáng 31/3/1975, tôi ra lệnh vắn tắt: Sẵn sàng đối phó với mọi tình huống, cấp phát cho SVSQ theo Tiêu Lệnh Hành Quân 3 ngày lương khô, 2 đơn vị đạn dược, sau cơm chiều, vũ khí cá nhân, cộng đồng trên người, quân phục tác chiến, bi đông nước, đem theo đĩa ăn, muỗng nĩa (SVSQ được trang bị một bộ đĩa, muỗng nĩa, loại tốt, thường ngày dùng ở phạn xá, nay mang theo).

– Sĩ quan khoá sinh các khóa các khóa căn bản, trung, cao cấp CTCT cũng được cấp phát lương khô.

– Khối Hành Chánh Tiếp Vận: Chuẩn bị cho phạn xá 1 GMC đem đủ dụng cụ nhà bếp hành quân di chuyển. Đem theo gạo tùy quân số khi dùng

– Quân xa các loại đầy đủ nhiên liệu.

– 2 xe bồn: xăng, dầu cặn.

– Xe buýt sinh viên

– 2 đơn vị đạn dược trừ bị.

– Bệnh xá: dụng cụ cứu thương, thuốc men.

Giã từ Đà Lạt

Giờ G: 19 giờ ngày 31 tháng 3, 1975: Điện thoại của Tỉnh trưởng Thị trưởng Tuyên Đức-Đà Lạt cho Chỉ huy trưởng trường ĐH/CTCT: VC tấn công thị xã (mật khẩu). Tôi bèn ra lệnh tập trung:

– Sĩ quan khóa sinh Căn bản, trung, cao cấp CTCT tại trại Lam Sơn đồi 4648, dưới quyền chỉ huy của Trung tá Đồng Văn Chân, Quân Huấn Vụ trưởng. SVSQ/ĐH/CTCT: Trại Chi Lăng đồi 4650 dưới sự chỉ huy của Bộ Chỉ huy Trường. Di chuyển khi có lệnh.

Theo ước hiệu giữa Thiếu tướng Thơ và tôi, khi nào Thiếu tướng đi xe jeep ngang qua trường ĐH/CTCT theo lối tắt từ BCH cũ trường VBQG xuyên qua ĐH/CTCT, gặp tôi báo cáo “xong” Thiếu tướng mới cho lệnh nổ mìn phá kho xăng và phòng thí nghiệm nặng (heavy lab) của trường Võ Bị và đó là lệnh di chuyển. Chiều ấy tại trại Chi Lăng tôi đang điều động Bộ Tham Mưu trường, Liên Đoàn SVSQ, liên lạc vô tuyến với Trung tá Đồng Văn Chân chỉ huy các bộ phận bên trại Lam Sơn gồm có các sĩ quan khóa sinh các khóa căn bản, trung, cao cấp CTCT, khối Hành Chánh Tiếp Vận thì Thiếu tướng Thơ, trên xe jeep ngang qua hỏi tôi: “Xong chưa?” Tôi xin 15 phút nữa, nhưng xe của Thiếu tướng vừa tới cổng mới đang xây của trường ĐH/CTCT và Bệnh xá Tiểu Khu thì hai tiếng nổ long trời, lửa bùng lên cao, kho xăng, kho đạn, heavy lab của trường Võ Bị đã cháy. Lệnh di chuyển rời Đà Lạt đã ban hành hơi sớm.

Đoàn quân xa trường ĐH/CTCT từ từ chuyển bánh, ra khỏi cổng trường Chi Lăng, ngay Bệnh xá Tiểu khu Tuyên Đức rẽ trái, hướng về phía Đơn Dương, đèo Ngoạn Mục. Màn đêm buông xuống. Xe nối đuôi nhau khoảng cách không quá một trăm thước, tốc độ vừa phải theo kỹ thuật di chuyển “công voa” (convoi), không dùng đèn pha chiếu sáng, mở đèn “mắt mèo” (black out) vì đường đèo nhiều khúc quanh, khúc khuỷu. Đà Lạt lùi dần về phía sau, chìm trong sương. Đến Trại Mát (10 cây số cách Trung tâm Đà Lạt), đoàn xe dừng lại, 5 xe GMC quay về hướng Đà Lạt chuyển các thành phần cơ hữu và SVSQ phải di chuyển đợt 2. SVSQ, sĩ quan khóa sinh, Bộ Chỉ huy Trường đi bộ, nhường xe, kể cả xe buýt của SVSQ, cho gia đình binh sĩ, chuyển nhanh đến Cầu Đất phía trước, rồi quay lại đón đoàn người đi bộ, đưa nhanh họ vào đèo Ngoạn Mục, quay lại đón đoàn người đến lúc trước ở Cầu Đất, chuyển họ nhanh lên đỉnh đèo, cứ như thế, trường ĐH/CTCT di chuyển sinh viên các khóa 4, 5, 6 (600 người), sĩ quan khóa sinh các khóa căn bản, trung, cao cấp CTCT (300 người), quân nhân cơ hữu (200 người), không có phương tiện di tản về Sài Gòn và các tỉnh phía Nam trước 31 tháng 3. Hai trăm quân nhân và gia đình thuộc trường VBQG, Tiểu khu Tuyên Đức-Đà Lạt tự động nhập vào đoàn di tản (trường ĐH/CTCT). Tổng cộng 1200 người, con số phỏng định khi rời Đà Lạt và đến quận Sông Pha, chân đèo Ngoạn Mục, nhà máy thủy điện Đa Nhim. Từ Sông Pha xuống Phan Thiết, ngược lại Phan Rí Cửa, số quân nhân trường VBQG, Tiểu khu Tuyên Đức-Đà Lạt và gia đình không theo đoàn quân di chuyển trường ĐH/CTCT nữa.

Hành quân di chuyển theo cách đi “con vẹt” (marche perroquet – parrot march). Vì thế chậm, mất nhiều thì giờ. 9 giờ sáng ngày 1 tháng 4, 1975, trường ĐH/CTCT mới chuyển quân xong, tới địa điểm tập hợp đấu tiên của trường VBQG, ĐH/CTCT, và Tiểu khu Tuyên Đức-Đà Lạt.

Chuyển quân giai đoạn 2

Thiếu tướng Thơ, Đại tá Đoàn, Trung tá Nhất, quận trưởng quận Sông Pha, và tôi họp kiểm điểm tình hình: tổng quát, tình hình xấu. Đà Nẵng thất thủ 31 tháng 3. VC có tăng 54, cơ giới hóa, đang tiến xuống Nam. Nha Trang bị áp lực, có thể từ Pleiku, Kontum xuống bao vây các tỉnh duyên hải bằng nhiều sư đoàn. Các đơn vị từ Đà Lạt xuống tiếp tục chuyển quân tái phối trí giai đoạn 2 về Bình Tuy (Hàm Tân). Đợi lệnh Bộ TTM. Đơn vị nào có đủ phương tiện, chuyển quân trước.

Trong trường hợp này, trường VBQG có đủ xe GMC chuyển SVSQ về Bình Tuy sớm. Tiểu khu Tuyên Đức-Đà Lạt không còn nhiều đơn vị, ít người, cũng chuyển quân nhanh. Chỉ có trường ĐH/CTCT không có đủ xe GMC chuyển quân, lại còn nhân viên cơ hữu, dân chính quốc phòng, và gia đình binh sĩ đi theo. Đến 10 giờ sáng ngày 1 tháng 4 mới tập trung được đủ người, chậm trễ vì phải đi bộ hành quân với đội hình “con vẹt”. Tôi lo ngại nhưng vẫn tin tưởng vào tinh thần kỷ luật của toàn thể quân trường.

Tập trung xong cho mọi người nghỉ chân, ăn cơm trưa, tôi vào nhà thờ Quảng Thuận, thuộc Trung tâm định cư của đồng bào Quảng Trị sau mùa hè đỏ lửa 1972, tìm gặp cha Đỗ Bá Ái, cựu tuyên úy QLVNCH, để được biết thêm tình hình, an ninh trên lộ trình sắp di chuyển. Cha đi vắng, tôi trở lại với đoàn quân, ra khỏi nhà thờ, tình cờ gặp cha Maïs, giáo sư Pháp ngữ Viện Đại Học Đà Lạt, người tôi đã nhờ nhuận sắc bản dịch sang Pháp ngữ cuốn Tổng Công Kích Mậu Thân 1968 do Phòng 5 Bộ TTM phát hành khi tôi còn là Trưởng Phòng trước khi nhận nhiệm vụ Chỉ Huy ĐH/CTCT. Vốn có cảm tình từ trước, Cha hỏi tôi đi đâu bây giờ?

– Chúng tôi di chuyển tái phối trí, tôi trả lời bằng Pháp ngữ (nous devons nous re-déployer).

Cha hỏi tiếp:

– Nhưng ở đâu? (mais où alors?).

– Chúng tôi đang ở trên lãnh thổ Phan Rang (nous sommes sur le territoire de Phan Rang).

Tôi hỏi lại Cha:

– Thế còn Cha ? Cha đi đâu?

– Tôi vừa ở Nha Trang về sau khi thu xếp cho các Nữ tu Dòng Kín về Sài Gòn rồi về Pháp, tôi sẽ trở lên Đà Lạt.

Từ giã Cha Maïs, tôi nghĩ đến giải pháp: mượn xe? trưng dụng? thuê xe đò? Đến chỗ dừng chân, tạm nghỉ, tôi nêu ý kiến hỏi các sĩ quan tham mưu. “Suốt từ sáng đến giờ, không thấy bóng dáng một chiếc xe nào ngoại trừ xe của mình –tất cả đồng thanh trả lời– Phải trưng dụng thôi.”

Tôi trầm ngâm. Là một ĐH/CTCT, sao có thể trưng dụng… Nhưng một lát sau, một xe chở cây gỗ (loại xe rừng) được anh em chặn lại, tỏ ý kiến trưng dụng. Ông chủ xe đến trước mặt tôi sụp lạy như tế sao, mếu máo: “Xin Đại tá làm phước cho vợ con tôi ở Đà Lạt đang trông chờ tôi về.” “Chính tôi phải lạy ông, ông đừng làm thế…” Tôi đỡ ông dậy, ôn tồn: “Ông giúp chúng tôi chuyển quân đến Bình Tuy, một chuyến thôi, xong ông về. Tôi đang chỉ huy, không thể lạy ông được, xin ông thông cảm.” Ông miễn cưỡng xuôi lòng.

Trung tá Đồng Văn Chân đi xe jeep được chỉ định chỉ huy một toán tiền thám gồm đa số khóa sinh trung, cao cấp CTCT, leo lên xe cây. Xe chuyển bánh, hướng về Phan Thiết, Hàm Tân. Tôi có chủ đích dùng các sĩ quan khóa sinh có khả năng chiến đấu, phản ứng tốt hơn nếu bị VC phục kích chặn đường. Nhưng lòng thấy ngậm ngùi, bất đắc dĩ phải trưng dụng. Nếu ông chủ xe không may mắn ngày ấy có cơ hội đọc được những dòng này, xin nhận lời tạ ơn muộn màng của tôi.

Trung tá Đồng Văn Chân và đội tiền thám với xe cây đi rồi, tôi sực nhớ chưa hỏi Cha Maïs tình hình Nha Trang và đường về đến đây qua Phan Rang có VC không thì vài đồng bào gốc Quảng Trị quen biết tôi đem xôi, thịt gà luộc tiếp tế cho tôi, có gia đình xin đi theo đoàn quân. Cha Đỗ Bá Ái xuất hiện. Có lẽ buổi sáng người giúp việc cho Cha không biết tôi là ai nên trả lời Cha đi vắng, nay đồng bào Quảng Trị biết tôi, tiếp tế cho tôi, nên Cha đến gặp vì là chỗ thân tình cũ. Câu hỏi đầu tiên của Cha không khác của Cha Maïs : “Đến đây rồi đi đâu nữa?” “Về Hàm Tân, V3CT. Rồi ra ngoại quốc nếu cần.” Tôi thành thực trả lời, không giấu giếm Cha, đầu óc đang mông lung, thoảng nhớ câu dặn dò của Sĩ Quan Cố Vấn trưởng Trung Hoa Dân Quốc tại ĐH/CTCT nói với tôi tháng 1,1975 khi tôi chuẩn bị đi Đài Bắc trong nhiệm vụ đại diện Bộ Quốc Phòng và Bộ TTM/QLVNCH ký thỏa hiệp giữa hai Đại Học CTCT Đài Bắc và Đà Lạt là Tỷ Muội Học Đường (Sister Academies): “Có biến cố lớn, việc ký thỏa hiệp sẽ hoãn. Nếu yên ổn tháng 5/75 sẽ ký. Nếu có biến cố, chúng tôi có tàu biển sang đón các cán bộ CTCT cần đi.”

Sau câu chuyện giữa Cha Ái và tôi qua vài câu hỏi ngắn ngủi trên, tôi chia tay với Cha để chuẩn bị tiếp tục hành trình. Sau này tôi biết Cha cũng mượn được tàu Hải Quân VN đưa một số đồng bào Quảng Trị đến Phú Quốc nhưng không có tàu ra hải phận quốc tế, phải trở về. Cha đi tù cải tạo, nay quản nhiệm một giáo xứ VN ở Pennsylvania.

Tàu biển Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) tham gia chuyên chở các toán quân và đồng bào di tản từ Đà Nẵng về Cam Ranh, Vũng Tàu cùng với Đệ Thất Hạm Đội của Mỹ, tàu của Úc, Đại Hàn… trong những ngày đen tối cuối tháng 3 đầu tháng 4, 1975 theo Olivier Todd trong cuốn Cruel Avril (bản tiếng Pháp), Cruel April (bản tiếng Anh) hay Tháng Tư Đen (bản tiếng Việt, Phạm Kim Vinh chuyển ngữ).

Thị trấn Tháp Chàm

Các đơn vị của trường VBQG, Tiểu Khu Tuyên Đức-Đà Lạt chuyển quân gần xong về hướng Hàm Tân, trường ĐH/CTCT mới ăn xong bữa trưa. Có tin hỗn loạn xảy ra tại Phan Rang vì các đơn vị rã ngũ.

Số xe GMC của trường ĐH/CTCT (khoảng 14, 15 chiếc) không đủ chuyển một chuyến hết số người còn lại –gần 1000 sau khi gia đình binh sĩ trường VBQG, Tiểu khu Tuyên Đức-Đà Lạt không đi theo đoàn quân ĐH/CTCT nữa. Phải chấp nhận mỗi GMC chỉ chở toán vũ trang nhẹ gồm 10 SVSQ và 20 đến 25 người không chiến đấu (gia đình binh sĩ) chạy chậm ngang qua thị trấn Tháp Chàm 5 cây số, tập trung gia đình binh sĩ tại đó, trở lại chuyển dần những người còn đi bộ.

Đến thị trấn Tháp Chàm, đoàn quân đang di chuyển trật tự, bỗng một người mặc thường phục chạy theo xe jeep của tôi (chạy chậm dưới 10/giờ) hớt hãi nói: “Thưa Đại tá, tôi là sĩ quan Tiểu khu Tuyên Đức, gia đình tôi đang bị cướp phá, xin Đại tá cho người đến cứu chúng tôi”. – “Chúng tôi đang chuyển quân, không thể giúp ông được”.

Buồn, đáng thương. Sau này có người nói với tôi khi Trường ĐH/CTCT di chuyển qua Tháp Chàm, cả một đoàn quân đi ngang qua mà không giúp được dân bị đám người vô kỷ luật cướp phá. Một lời chê trách tôi không trực tiếp trả lời được. Hy vọng những dòng này sẽ được ông bà nào trong hoàn cảnh đó đọc và thông cảm chúng tôi có trách nhiệm về sinh mạng của gần ngàn người, có dân trong đó, nên không làm được một công tác “chiến tranh chính trị đúng là phải làm”.

Viết đến đây thì Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh bị bệnh, không thể tiếp tục. Và ông mất ngày 13/6/2014, hưởng đại thọ 92 tuổi. Xin quý vị, quý bạn đọc thêm hai đoạn trích về cuộc di tản dưới góc cạnh khác, tường thuật bởi Trần Thanh Sơn, SVSQ khóa 4, hiện ở Irvine (cf. Ức Trai, số đặc biệt 30/4, 2002), và bởi Kim Thanh, Đại úy Trưởng khoa Nhân Văn Xã Hội, Văn Hóa Vụ…


THÁNG TƯ, BỎ LẠI
Trần Thanh Sơn, SVSQ/CTCT khóa 4

… Khi đến Phan Rang, thành phố này đã thực sự mất kiểm soát, náo loạn khắp nơi. Đoàn xe chúng tôi đã thật khó khăn khi chen chúc vượt qua thị trấn này. Nhiều thường dân, binh sĩ xin theo đoàn không được, có người làm hoảng. Chính tại nơi đây, lần đầu tiên và có lẽ duy nhất trong đời cận vệ, trung úy Thạch Minh Lợi đã có dịp thi thố khả năng của mình, khi Đại tá CHT suýt bị làm hỗn. Có một điều ai nấy cũng đều ngưỡng mộ người chỉ huy trưởng khả kính này, trong mọi thời điểm suốt những chặng đường dù nguy hiểm đến đâu, ông cũng theo sát cả đoàn để ban hành những khẩu lệnh kịp thời, kể cả những khi cùng lội bộ, bất chấp an ninh của cá nhân ông. […].

Sau đó thì có lệnh Tiểu khu trưởng Phan Thiết cho bắn pháo, ngăn chận không để mọi thành phần di tản vào thành phố, do đó đoàn di tản phải quay ngược trở về Phan Rí, toán trinh sát không bắt tay được với Trường Mẹ […].

Trở lại với đoàn di tản, đã bước sang ngày thứ năm, chúng tôi ai nấy đều thấm mệt, có đêm hoàn toàn không chợp mắt hay kê lưng vì cứ phải chạy, có đêm may mắn nằm ở trưòng học nhắm mắt được chỉ đôi ba tiếng, tuy nhiên tinh thần thì rất vững, chấp hành kỷ luật quân trường tối đa, một phần vì tất cả các cấp chỉ huy đều vẫn còn giữ kỷ cương, phẩm cách và sự gương mẫu của cán bộ quân trường, nên quyết cùng sống chết với nhau.

Ở Lương Sơn, Bộ chỉ huy Trường sau khi nhận định tình hình, để tránh thiệt hại nếu cứ tiếp tục dùng đường bộ, vì lúc này đường Phan Thiết đã mất an ninh và đã bị cấm cửa, Đại tá chỉ huy trưởng đã có một quyết định, mà cho đến giờ này sau gần 30 năm, khi già rồi, chúng tôi mới thấy rõ đó là một quyết định rất sáng suốt và nhậy bén của một cấp chỉ huy, biết tiết kiệm xương máu cho tất cả thuộc cấp. Ông đã ra lệnh, vẫn với cung cách cố hữu của con nhà nghèo: tất cả mọi người dốc hết tiền đang có để thuê ghe chở toàn bộ Trường Mẹ từ Phan Rí Cửa về Vũng Tàu. Tiền đóng góp đã nhanh nhẹn được thu vào những chiếc nón sắt, nhất là với sự tự giác cao độ của người SVSQ trong những lúc hiểm nghèo, cộng thêm số ngân quỹ do Khối Tài Chánh mang theo. Sau này Tổng Cục CTCT đã hoàn trả lại số tiền kể trên cho mọi người. Tất cả di chuyển về Phan Rí Cửa, nơi đây đã được hẹn trước cùng đoàn ghe đánh cá. Cuối cùng, lúc 2 giờ 30 phút trưa ngày 6 tháng 4, toàn bộ trường ĐH/CTCT đã sẵn sàng trên những chiếc ghe đánh cá đã được thỏa thuận thuê mướn sòng phẳng, lộng gió hướng thẳng về Vũng Tàu –vùng đất Tự Do còn lại.

Trần Thanh Sơn,
SVSQ/CTCT khóa 4

Freitag, 26. März 2021

NHỮNG CON HỔ RỪNG GIA SA CƠ!

(câu chuyện của những người lính hiển linh trở về báo mộng)

Trung Đoàn 5, Sư Đoàn 2 Bộ Binh VNCH, một trung đoàn nổi tiếng có những người lính quả cảm, đánh đồn xuất quỉ nhập thần bởi họ được đào tạo bài bản từ kiến thức địa lý, kiến thức quân sự, chính trị, văn chương cho đến võ thuật, phương cách sử dụng vũ khí ...
Họ được mệnh danh là 'Những con hổ rừng già'... - Ông K., người tham gia trận đánh nhưng thoát chết, trầm ngâm nói.
Theo dòng ký ức ông K., “phần lớn những người lính trong Trung Đoàn 5/ Sư Đoàn 2 BB, có gốc gác miền Nam, do thuyên chuyển, họ về Quảng Nam. Lý do chính để họ có mặt ở đây là vì phần lớn bọn việt cộng nằm vùng ở Quảng Nam có cách đánh du kích, bắn tỉa khá thiện xạ và hơn hết là cơ số bọn đặc công ở đây khá lớn. Phần đông chiến sĩ VNCH này nói giọng miền Nam, họ là những người trí thức, nói năng nhẹ nhàng, lịch sự và thường giúp đỡ bà con trong thôn..”

Kể lại trận đánh, ôn.g K. cho biết:
“Bắt đầu từ rạng sáng ngày 20/ 03/ 1975, phần lớn các tuyến phòng thủ của Vùng 1 Chiến Thuật đã lung lay, quân xâm lược cộng sản Bắc Việt tràn vào ngày một nhiều. Ngày 21/ 03/ 1975, nhiều tuyến phòng thủ Quảng Đà (tên gọi cũ) đã rạn nứt.

“Ngày 22 tháng 3, nhiều binh chủng rút quân từ núi ra biển, thoát lên tàu. Có một số đơn vị bị mắc kẹt do có quá nhiều lính bị thương và họ vẫn muốn tiếp tục chiến đấu bảo vệ vòng đai chiến sự của mình.

“Trường hợp nhóm chiến sĩ thuộc Trung Đoàn 5 - Sư Đoàn 2 Bộ Binh VNCH là một điển hình của tinh thần chiến đấu can trường này. Thay vì rút quân về phía biển, họ tiếp tục trụ lại khu vực thôn Dương Lâm để chiến đấu chống lại lũ giặc cướp xâm lược từ phương bắc.”

Ngày 23/ 03/ 1975, có thêm một nhóm chiến sĩ khác thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến tiến về thôn Dương Lâm, hợp với nhóm chiến sĩ Trung Đoàn 5.
Cũng trong ngày 23 này, có thêm nhiều nhóm nhỏ chiến sĩ thuộc các đơn vị khác (đã trúng thương) đưa thương binh vào chùa Dương Lâm nương nhờ vào sự bảo vệ của nhóm chiến sĩ Trung Đoàn 5 và nhóm vừa “tăng cường,” để các y tá chăm sóc cho các thương binh.

Ngày 24 tháng 3, bọn giặc cướp Bắc Việt xâm lược chiếm đồn 159 trên đỉnh đồi Phú Ninh, nằm phía Tây Nam, cách chùa Dương Lâm chừng 3km. Đồng thời, đồn 162 - Núi Cấm cũng bị chiếm trong ngày này. Bốn phía là quân đối phương, nhóm chiến sĩ thuộc Trung Đoàn 5 và nhiều thương binh của các binh chủng bạn trong chùa Dương Lâm rơi vào thế bị cô lập hoàn toàn.

Phía quân Bắc Việt bắt đầu nã đạn vào chùa Dương Lâm. Các chiến sĩ VNCH chưa có phản ứng gì, họ tranh thủ đào hầm, đào hào và canh chừng, chưa nổ súng.
Đến chiều ngày 24 tháng 3, sau một ngày bắc loa kêu gọi đầu hàng nhưng không thấy động tĩnh nào, bọn giặc cướp xâm lược bắt đầu nã súng vào khu vực khuôn viên chùa Dương Lâm. Lúc này, có nhiều thương binh của VNCH đã treo áo lên nòng súng làm cờ trắng, ra trước sân chùa đầu hàng. Nhưng khi họ bước ra đến sân chùa thì tiếng súng bắn tỉa của bọn giặc cướp xâm lược nổ đanh điếng, họ ngã quỵ.

Những người lính trong chùa bắt đầu nã súng dữ dội về phía đối phương, đẩy lùi bọn giặc cướp Bắc Việt xâm lược lên phía núi. Chừng 3 giờ chiều, một tên đặc công Bắc Việt mang lựu đạn bò vào chùa, vào đến giếng nước phía Đông sân chùa thì hắn bị phát hiện và bị bắn chết. Phía quân Bắc Việt hạ lệnh bắn xối xả B.40, B.41 vào chùa Dương Lâm. Trong bắn ra, ngoài bắn vào, trận pháo hai bên kéo dài chừng 3 giờ đồng hồ thì cả hai bên im hơi lặng tiếng.

Những người lính VNCH còn sống sót trong chùa bắt đầu rút ra khỏi chùa, luồn người dọc theo bờ rào trồng hoa râm bụt của chùa.

Lúc này, phía quân cộng sản Bắc Việt xâm lược ngồi trên những đồi cao quan sát và hạ tầm súng xuống ngang mặt đất, nhắm ngay vào bờ rào hoa râm bụt và nổ trực xạ liên tục. Toàn bộ những người lính rút theo hướng bờ rào ngã xuống chết không còn sống sót người nào.

Còn một người duy nhất - ông K. (người chúng tôi không tiện nêu tên, đã trải qua lao tù cộng sản, hiện đang sống trong một huyện miền núi hẻo lánh ở Quảng Nam) - còn sống sót được nhờ băng ruộng phía bên hông chùa chạy thắng ra nhà dân, cải trang thành thường dân và rút về Tam Kỳ.

Lúc này, toàn bộ phủ lỵ Tam Kỳ đã treo cờ của bọn cộng sản Bắc Việt xâm lược. Sau trận đánh hơn một tuần, không ai dám đi ngang qua khu vực chùa Dương Lâm bởi mùi máu tanh và tiếng quạ kêu, đêm thì chim cú kêu và tiếng mèo hoang gào rú nghe hết sức thê lương rợn người như những tiếng réo gọi vong hồn những người đã ngã xuống trong cô đơn và uất hận !

Sau đó, người dân thôn Dương Lâm bắt buộc phải kéo nhau lên chùa để thu gom xác người chết đem đi chôn cất. Nói là chôn cất nhưng thật ra, lúc đó không ai dám bày tỏ lòng kính ngưỡng hay thương cảm đối với những người lính đã chết mà vốn trước đây có người còn là ân nhân của thôn vì sợ bọn lính Bắc Việt hèn hạ trả thù.

Chính vì vậy mà sự chôn cất rất qua quýt, chôn để mà có chôn, tránh tình trạng thú vật ăn mất xác và mùi tử thi bay khắp thôn. Chôn không có vải bọc thi thể như những người lính trên bãi biển An Dương ở Phú Vang, Huế mà chỉ phân nhóm ra, đào một cái hố sâu chừng 1.5 mét, lùa toàn bộ xác người xuống đó và lấp đất lại.
“Vì sao tôi nói hơn 100 xác à? Vì lúc đó, số anh em chúng tôi, nhóm chiến sĩ thuộc Trung Đoàn 5, nhóm này tuy là thuộc Bộ Binh nhưng bên trong cơ cấu rất nhiều Biệt Động Quân, kể cả tôi, nhằm ứng phó chiến cuộc... còn lại sáu mươi hai người, cộng thêm với nhóm lính thuộc một đại đội Thủy Quân Lục Chiến cũng ngót nghét 50 người, rồi các thương binh...
Tính kiểu gì cũng ra trên 100 hài cốt, nếu không nói là 200, vì phần bị nã B.40 chắc chắn là không còn nguyên vẹn hình hài, phần nguyên vẹn nằm ở trên đường rút và sau vạt khoai mì, chừng 100 người” - Ông K. nóI.

Câu chuyện của những người lính VNCH khép lại sau trận chiến một cách buồn thảm và bi tráng. Cái chết của họ cũng không được yên bởi phong trào đào sắt, rà sắt để cải thiện bữa ăn của nhiều người nghèo trong những năm tháng Việt Nam nghèo đói. Mộ tập thể của họ bị quật lên nhiều lần để lấy thẻ bài, súng đạn, dây nịt...
Mãi cho đến sau này, khi Phật Tử chùa Dương Lâm sinh hoạt thường xuyên hơn, kinh tế của họ cũng khá hơn, họ bắt đầu nghĩ đến những người đã khuất. Họ cùng nhau chung tiền, góp công, góp sức để bốc mộ và di dời những hài cốt lên núi.
Cũng bắt đầu từ lúc này, những câu chuyện về người lính năm xưa trở về linh hiển và bí nhiệm...
"Sống khôn, chết thiêng... "

Đầu tháng 4 năm 2009, sau hơn ba mươi năm im ngủ trong lòng đất mẹ, những người lính VNCH tưởng đã đi vào quên lãng bỗng dưng sống dậy trong ký ức của nhiều Phật tử chùa Dương Lâm.

Ngày 1 tháng 4 năm 2009, sau lễ chiêu linh, sau những hồi chuông chiêu cảm của chư thầy và các Phật Tử chùa Dương Lâm, những đoạn xương, những bộ hài cốt được đưa lên mặt đất, an quách và đưa đến khu nghĩa trang tập thể của chùa, nằm trên lưng ngọn đồi Phú Ninh, lưng dựa vào núi, mặt hướng ra lòng hồ nước xanh.

37 ngôi mộ mới (trong đó có 3 mộ đôi) an tọa trên lưng đồi, nơi mà trước đây ba mươi mấy năm, những người nằm dưới mộ kia, những người được mệnh danh là ‘những con hổ rừng già’. Họ nằm im nghe tiếng gió núi và lời thầm thì của đại ngàn sau cơn binh biến cháy đỏ trời quê hương, sau những tử sinh của kiếp người bất hạnh sinh nhầm thời và ngã xuống trong uất hận và cô đơn. Vẫn còn nhiều đồng đội của họ nằm sót lại đâu đó gần chùa, trên những nương khoai mì vắng lạnh...

Về báo mộng

Và, sau lần di dời ấy, nhiều Phật Tử trong nhóm bốc mộ nằm mơ thấy những người lính trở về. Câu đầu tiên họ nói là lời cám ơn gửi đến những ân nhân đã đưa họ đến nơi khô ráo, yên tĩnh và thơ mộng. Sau đó, nhiều lần báo mộng khác, họ cho biết rằng trong số họ, có người thèm ăn ớt xanh với mì quảng, có người thèm khoai lang luộc, có người thèm hút thuốc lá, có người thèm một chai bia, có người nhớ quê mà lâu quá không được về nhà bởi không có tiền mãi lộ... Cũng có người than lạnh quá bởi ngôi mộ mới của họ bị trống chân...

Vậy là các Phật Tử lại họp nhau, mua những thức quà mà họ đã báo mộng rằng họ đang cần, mang lên khu mộ mới để cúng kính, dâng tặng. Ngạc nhiên nhất là người Phật Tử nằm mộng thấy người lính chỉ ngôi mộ của mình nằm ngoài bìa khuôn viên nghĩa trang mới bị lạnh chân. Khi anh đến cúng thì phát hiện ngôi mộ đó bị lở đất do mưa núi. Anh đắp đất lại thì tối đó về nằm mộng thấy người lính ấy về cám ơn và hứa sẽ tặng một món quà...

Những hài cốt còn nằm lẩn khuất đâu đó trong vùng, chưa được di dời lên khu nghĩa trang vẫn là nỗi canh cánh trong lòng những Phật Tử Dương Lâm.

Qui tập lần 2, những báo mộng mới...

Đầu năm 2011, Đại Đức Thích Pháp Tánh về nhậm trụ trì chùa Dương Lâm. Việc đầu tiên của thầy làm là kêu gọi các Phật Tử cùng thầy góp công sức, tiền của để tiếp tục di dời, cải táng cho những hài cốt còn sót lại trong khuôn viên chùa. Lời kêu gọi của vị sư trẻ tuổi đã nhanh chóng được hưởng ứng, đợt qui tập mộ lần 2 được thực hiện sau đó không lâu.

Nhưng, điều làm cho vị sư trẻ cùng những Phật Tử buồn nhất lại là những hài cốt đã bị lưu lạc trong lòng đất. Nếu như những ngôi mộ đôi, những hố chôn đôi vẫn còn nguyên vẹn (bởi lúc chôn được phân công theo từng đội hoặc cá nhân, chính vì vậy mà có hố chôn cả mấy chục chiến sĩ, có hố chỉ chôn một hoặc hai người) nhưng những hố cá nhân và tập thể, khi đào lên thì hỡi ôi, không còn đầy đủ hoặc không còn gì cả!

Thầy Pháp Tánh tâm sự: “Có lẽ do trải qua một giai đoạn nghèo đói chung của cả nước, người dân có lúc thi nhau đi rà phế liệu, họ đào lên và lấy nhiều thứ, trong đó có những thứ quí giá vô cùng nhưng lại được bán với giá rẻ mạt, mua chưa được một ổ bánh mì, đó là tấm thẻ bài. Tính ra, hơn một trăm tấm thẻ bài mất đi, chưa tới một trăm ổ bánh mì theo thời giá hiện tại nhưng cái mất mát lại là danh tánh của người chết vĩnh viễn không còn...!”

Cũng chính vì có những ngôi mộ đôi, khi đào lên, không còn thẻ bài, chỉ còn sắc phục và dây thắt lưng (ra gió chừng 5 phút là tan rã, không còn gì nữa), mà phần đầu và phần mình lại nằm chéo nhau, rất khó để phân biệt mình của ai, đầu của ai nên các phật tử không dám tách thành hai mộ mà vẫn giữ nguyên mộ đôi khi về nơi qui tập mới.

Lại có cả chuyện nhiều hố chôn đơn lẻ, khi đào lên chỉ thấy bộ xương thân hình nhưng không tìm thấy đầu, mọi người lo lắng và hoài nghi... Quàn tạm trong nhà linh ở chùa để đào tiếp thì tối đó, người lính về báo mộng, chỉ vị trí đầu mình nằm cách nơi gần hố chôn chừng vài mét. Sáng mai, ra đào, đúng y như giấc mộng.
Cuộc cầu siêu và những giấc mộng lành...

Sau cuộc qui tập lần 2, nỗi canh cánh vẫn còn đó, chỉ có 27 hài cốt được tìm thấy, như vậy có nghĩa là còn nhiều người vẫn nằm lạnh trong vườn chùa. Nhưng dẫu sao cũng ít nhiều an lòng người sống và ấm lòng người khuất phần nào. Những giấc mộng vẫn còn quanh quẩn trong nội dung đói, lạnh, thèm ăn, nhớ quê, nhớ người thân, bơ vơ lạc lõng...

Thầy Pháp Tánh họp các Phật Tử một lần nữa, bàn kế hoạch tổ chức Trai Đàn Chẩn Tế - Cầu siêu bạt độ cho những vong linh chiến sĩ trận vong. Ngày 27, 28, 29 tháng 7 Âm Lịch 2011 (26, 27, 28 tháng 8 năm 2011), một đại lễ Trai Đàn Chẩn Tế - Cầu Siêu Bạt Độ cho tất cả được tổ chức trong khuôn viên chùa Dương Lâm.

Hiện nay, khu mộ mới đã hoàn thành, tọa lạc trên một sườn đồi thoai thoải bên hồ chứa nước của đập thủy điện Phú Ninh, cách xa chùa Dương Lâm khoảng 5 km.
Dường như từ đó đến nay, thỉnh thoảng, những giấc mộng của các phật tử Dương Lâm được thấy vui hơn, các vị chiến sĩ báo mộng xin thuốc lá để hút chứ không còn lạnh và cô đơn như trước đây.

Thay cho lời kết của bài viết này, xin trích lời một Phật Tử: “Tôi là người nằm mộng thấy họ về nhiều nhất. Bây giờ họ vui vẻ hơn nhiều. Nhưng có một điều, dường như nỗi nhớ nhà, nhớ người thân vẫn là nỗi thao thức lớn nhất của các linh hồn cô đơn. Đã mấy mươi năm họ chưa được gặp lại người thân! Phần lớn họ nói giọng miền Nam, và họ rất muốn về quê!”

Vẫn còn nhiều bộ hài cốt nằm trong khuôn viên chùa Dương Lâm chưa được di dời. Qua thời gian, xê dịch địa tầng, đào sắt và mưa lũ, rất có thể, sự nguyên vẹn là hy hữu.

(7/2020) Theo lời kể của Thầy trụ trì là Đại Đức Thích Pháp Tánh cho biết thì hiện nay, Thầy đã di dời tất cả là 71 ngôi mộ (trong đó có 3 mộ đôi, có 13 ngôi mộ có tên nhưng không có địa chỉ) còn lại là những ngôi mộ vô danh. Thầy đã làm mộ bằng đá cho những Chiến Sĩ Anh Hùng này qua một người thợ làm đá tại đó cho Thầy nợ trả dần, vì chùa cũng rất khó khăn. Tâm nguyện của Thầy rất tốt, vẫn thường xuyên lo cầu siêu, hương khói cho các linh hồn những Chiến Sĩ Anh Hùng đã “Vị Quốc Vong Thân” mà không có thân nhân thăm viếng và hương khói.

Danh tính các chiến sĩ mà chùa Dương Lâm hiện có:
1. Nguyễn Minh - SQ 75- 211355 - Trung Đoàn 5/SĐ2
2. Nguyễn Văn Tôi - SQ 75 - 151704 - Trung Đoàn 5/SĐ2
3. Nguyễn Ban - SQ 73 - 213952 - Trung Đoàn 5/SĐ2
4. Nguyễn Chí Thanh - SQ 704 - 2744
5. Nguyễn Thị Phụng
6. Nguyễn Thanh (A)
7. Hoàng Thắng Tài
8. Nguyễn Văn Trị
9. Trần Công Tranh
10. Phan Văn Ẩn
11. Nguyễn Văn An
12. Phan Văn Ảnh
13. Nguyễn Tấn Ca
14. Lê Văn Nghĩa
15. Đinh Văn Nhiên
16. Nguyễn Văn Dũng - Nguyễn Tấn Tài (Mộ đôi)
17. Nguyễn Thành Danh
và một số mộ đơn, mộ đôi khác có bia “vô danh”.

(Sgtt/ Hoàng Thái Sơn t/h - theo Liêu Thái/ NV/ NET)

Donnerstag, 25. März 2021

NHỮNG CON SỐ NÓI LÊN ĐƯỢC BẢN CHẤT ĐỘC TÀI CỦA CỘNG SẢN VN

Báo cáo Y tế số tại Việt Nam công bố ngày 20/1/2021 ghi nhận tính đến năm 2018, Việt Nam có 77.995 bác sĩ và 128.386 y tá trên toàn quốc. Đây là con số còn khiêm tốn so với tổng dân số cả nước, tức chưa đến 1 bác sĩ và 2 y tá/1.000 người dân. Con số rất hổ thẹn nếu đem so với CHDCND Triều Tiên, số BS và Y tá của CHDCND Triều Tiên (3,7/1000 dân).

Nguồn: http://www.medinet.hochiminhcity.gov.vn/tin-tuc-su-kien/viet-nam-van-nam-trong-cac-nuoc-co-so-bac-si-va-dieu-duong-tren-1000-dan-o-muc-cmobile1780-36945.aspx

Những nước có sự chăm sóc khỏe tốt nhất cho người dân là các nước Tây phương. Đức chi hàng năm là 11.3% GDP của mình cho chăm sóc y tế: Đức còn được xem là quốc gia có mật độ bệnh viện dày đặc nhất thế giới - 1.900 bệnh viện cho 82 triệu dân. Cứ 100.000 người Đức thì sẽ có 29 giường ICU. Bệnh viện công ở Việt Nam được chia thành ba cấp trung ương (47 bệnh viện); cấp tỉnh (419 bệnh viện) và cấp huyện (684 bệnh viện). Bên cạnh các bệnh viện công, cả nước còn có 182 bệnh viện tư, tổng cộng có 1332 cho 98 triệu dân.

ICU là từ viết tắt Tiếng Anh của Intensive Care Unit tạm dịch là các đơn vị hồi sức cấp cứu, chăm sóc đặc biệt hoặc điều trị tích cực. Trọng tâm chính của ICU là cung cấp chăm sóc liên tục cho những bệnh nhân nặng đang trong tình trạng bị đe dọa tính mạng.Tỷ lệ này ở Italy là 13, ở Pháp là 12, ở Tây Ban Nha là 10 và ở Anh chỉ có 7. Nhật chi 10,3%  GDP cho chi phí y tế. 

Theo nghiên cứu của Fitch Solutions, chi tiêu cho y tế của Việt Nam tính đến năm 2019 chiếm 6% GDP. Nguồn: https://tuoitre.vn/viet-nam-co-chua-den-1-bac-si-va-2-y-ta-cho-1-000-nguoi-dan-20210120123645118.htm

Ngân sách chi cho Bộ Y Tế VN năm 2021 là 9.170.920 tỉ đồng. Nguồn http://datafile.chinhphu.vn/files/vbpq/2020/12/1927-BTC.PDF

Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam năm 2019 là 73,6 tuổi; trong đó, tuổi thọ của nam giới là 71,0 tuổi, của nữ giới là 76,3 tuổi. Nguồn: http://consosukien.vn/tuo-i-tho-trung-bi-nh-cu-a-vie-t-nam-qua-ke-t-qua-to-ng-die-u-tra-dan-so-va-nha-o-nam-2019-nhu-ng-va.htm. Còn những nước biết chăm lo sức khỏe người dân , tuổi thọ trung bình như người Đức là 81 tuổi, Nhật 87,45 tuổi, Hàn Quốc 82,63 tuổi , Singapor 84,8 tuổi...

SỐ LƯỢNG CAND Ở VN

Được biết hiện nay tổng số các lực lượng bảo vệ dân phố, dân phòng, công an xã bán chuyên trách vào khoảng 2 triệu người. Theo đó, việc thành lập lực lượng mới sẽ giúp giảm khoảng 500.000 người trên toàn quốc.

Ngoài ra, hiện có khoảng 72 nghìn người bảo vệ dân phố ở các đô thị và trên 126 nghìn người là công an xã bán chuyên trách. Như vậy, tổng số các lực lượng bảo vệ dân phố, dân phòng, công an xã bán chuyên trách vào khoảng 2 triệu người. "Đây là con số theo quy định của luật”, Bộ trưởng Tô Lâm cho hay. Nguồn: https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/quoc-hoi/se-nhap-bao-ve-dan-phong-cong-an-xa-ban-chuyen-trach-lam-mot-673102.html

Tuy nhiên, ai cũng biết,  hiện có khoảng 126.000 công an xã bán chuyên trách, 7.000 bảo vệ dân phố và 500.000 dân phòng thực hiện nhiệm vụ. Tổng là 733.000. Như vậy nếu giảm từ 2 triệu xuống còn 1,5 triệu thì vẫn là tăng hơn 700.000 người. Lực Lượng CAND của Tô Lâm cao hơn 3 lần số quân đội tại ngũ là: 482.000 người với ngân sách về lương bổng để nuôi đám cướp này là 5,5 tỉ US đô la tương đương với 126.967,5 tỷ VN đồng. 

Trong thời Tô Lâm sự khác biệt về cách tổ chức lực lượng an ninh với quân đội khác nhau quá lớn về việc bảo kê cho một chế độ độc tài ở VN, so với các nước dân chủ tự do trên thế giới. Ngân sách trong thời bình dành cho CAND lớn gấp 3 lần QĐND. 

Đối với ngành công an trong thời bình như hiện nay đã có 174 sĩ quan được thăng bậc hàm cấp tướng, gồm: 147 sĩ quan từ đại tá lên thiếu tướng; 26 sĩ quan từ thiếu tướng lên trung tướng; một sĩ quan từ thượng tướng lên đại tướng. CAND với con số 1,5 triệu người, tức là ước tính cứ 1.000 dân có 15 viên công an phục vụ. CAND được xếp hạng nhất trong khu vực, đông như quân Nguyên, một lực lượng chuyên môn đi cào nhà dân, cướp tài sản nhà cửa dân, tiếng oán khắp trời xanh. CHXHCNVN là một cường quốc hạng nhất về lực lượng trấn áp người dân trong thời bình và có rất nhiều tướng cướp xuất thân từ tướng CAND. Trong 3 năm từ 2018 đến 2021 có trên 20 tướng CAND bị xộ khám và kỷ luật. Nguồn: https://www.tienphong.vn/xa-hoi/diem-danh-loat-tuong-linh-sy-quan-cong-an-bi-ky-luat-xu-ly-1463834.tpo

Ngay cả Tướng CAND, từng là CT UBND Thủ Đô Hà Nội, được coi là trái tim của Tổ Quốc, đó là Thiếu Tướng Nguyễn (thất) Đức Chung cũng là tướng cướp. Nguồn: https://www.voatiengviet.com/a/cuu-ct-hanoi-nguyen-duc-chung-bi-khai-tru-ra-khoi-dang/5704591.html. Thật vinh quang cho ngành CAND nước chxhcnvn

Tóm lại, trong thời bình thay vì tăng ngân sách cho Y Tế và giáo dục thì đảng csvn tăng quân số và ngân sách cho ngành CAND, đũ để thấy Nguyễn Phú Trọng và đảng csvn cố xây dựng môt lực lượng trấn áp để bảo kê cho chế độ độc tài toàn trị, kéo dài sự tồn tại nghịch lý và trôi nổi của một chế độ đang lội ngược dòng của xu hướng thời đại là dân chủ tư do - đa đảng trên toàn thế giới. Trích mượn bài thơ "Khi đảng cướp cầm quyền" của thi sĩ Phan Huy để thay lời kết:

khi đảng cướp cầm quyền
chúng như loài lang sói
vây hãm mãi quê hương
trong gông cùm tù tội

khi đảng cướp cầm quyền
đất nước là của riêng
chúng si mê cuồng tín
muốn trị vì muôn niên

khi đảng cướp cầm quyền
chỉ còn cách duy nhất
toàn dân phải vùng lên
để giành lại đất nước.

Biên khảo từ Hậu Duệ VNCH Võ Thị Linh 25,03,2021

Mittwoch, 24. März 2021

 LÀNG CHIẾU TRĂM NĂM ĐỊNH YÊN ĐƯỢC UNESCO VINH DANH

Ở vùng sông nước miền Tây, nhắc đến làng nghề trăm năm thì khó ai quên được làng chiếu Định Yên (huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp) nức tiếng xa gần.

Nằm nép mình bên dòng sông Hậu hiền hòa và thơ mộng, xã Định Yên (huyện Lấp Vò) không chỉ nức tiếng với nghề dệt chiếu truyền thống mà còn in đậm trong tâm thức nhiều người bởi vẻ đẹp quyến rũ đa sắc màu của những chiếc chiếu được làm từ lác nước. Tuy mộc mạc, bình dị nhưng những chiếc chiếu nhiều hoa văn này đã tạo nên vẻ đẹp thanh tao, làm cuốn hút người phương xa.

Ở Định Yên có làng nghề dệt chiếu rất nổi tiếng, nên trong kho tàng dân gian truyền khẩu có ca dao nói về làng chiếu nơi này:

Định Yên có vựa chiếu to,
có chồng xứ Định (Yên) khỏi lo chiếu nằm.

Và cũng bởi trước đây, sợ ghe mua chiếu lui bến vì đã mua đủ chuyến, cho nên hễ dệt xong vài đôi chiếu là người làm tranh thủ đem đến chợ bán ngay cả những lúc về đêm. Nên từ đó hình thành nên cái chợ chiếu ban đêm mà người ta quen gọi là "chợ ma, chợ âm phủ". Cảnh chợ ấy ngày nay không còn nữa.

Dưới cái nắng đổ lửa giữa tháng 3, những bó lác mới nhuộm được xếp thành hàng dài phơi dọc 2 bên đường như những cánh bướm sặc sỡ trải khắp các con đường vào làng chiếu. Sắc xanh - đỏ - tím – vàng của những bó lác luôn tạo ấn tượng đầu tiên cho những người phương xa khi lần đầu đặt chân đến vùng đất này.

Làng chiếu xã Định Yên đang thu hút hàng trăm lao động của 4 ấp, tạo công ăn việc làm ổn định cho nông dân địa phương. Bình quân mỗi lao động làm việc ở các khâu như: chẻ lát, phơi lát, dệt chiếu, giao hàng có thu nhâp từ 120 đến 150.000 đồng mỗi ngày. Con số thu nhập không nhiều nhưng thật có ý nghĩa với những lao động nông thôn, đặc biệt đối với những gia đình có nhiều lao động không có việc làm.

Làng chiếu Định Yên được hình thành cách đây hàng trăm năm, tập trung chủ yếu ở 2 xã Định An và Định Yên, nơi mà gần 80% hộ dân theo nghề làm chiếu.

Là đời thứ tư nối nghiệp nghề dệt chiếu của gia đình, chị Võ Thị Kiều Diễm (ngụ ấp An Lợi B, xã Định An) đang miệt mài bên khung dệt, ở các bước cuối cùng để cho ra đời một chiếc chiếu đẹp mắt. Chị Diễm tay thoăn thoắt xỏ từng sợ lác, vui vẻ chia sẻ về lịch sử hình thành nghề và các công đoạn để hoàn thành một chiếc chiếu Định Yên nức tiếng.

Theo đó, trước tiên là chọn sợi lác về nhuộm phẩm với đủ loại màu sắc. Để màu nhuộm chính xác, khó phai ít nhất phải nhuộm 2 đến 3 lần trở lên. Nhuộm xong thì đem phơi cho đủ nắng. Nếu phơi dưới cái nắng quá gắt thì lác dễ bị giòn, gãy; còn phơi dưới nắng dịu thì sợi lác sẽ bị ẩm, mốc.

Rời nhà chị Diễm, chúng tôi đến thăm gia đình ông Huỳnh Văn Chiến (76 tuổi; ngụ ấp An Khương, xã Định Yên). Với hơn 50 năm trong nghề, cụ Chiến cho biết hiện gia đình vẫn sử dụng khung dệt chiếu bằng tay, mỗi ngày chỉ dệt được khoảng 2 đôi chiếu, với giá bán 95.000 đồng/đôi, trừ chi phí còn lời được 70.000 đống - khoản thu nhập còn quá khiêm tốn.

"Hiện nay, đa số các hộ dân trong nghề đều đã trang bị máy dệt nên năng suất cao hơn rất nhiều so với khung dệt bằng tay. Tuy nhiên, trước xu thế công nghiệp hóa ngày càng cao, nên chúng tôi muốn giữ lại nét truyền thống dệt bằng tay mà cha ông đã truyền lại, dù thu nhập thấp hơn máy" - cụ Chiến chia sẻ.

Rời làng chiếu Định Yên, bên tai tôi vẫn văng vẳng câu hát:

"Hò ơi! Chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm

Công tôi cực lắm mưa nắng dãi dầu…" 

trong bài "Tình anh bán chiếu" của cố soạn giả Viễn Châu viết về chiếu Cà Mau nổi tiếng, nhưng hình như đó cũng là nỗi lòng của những người thợ dệt ở làng chiếu Định Yên, Định An.

Năm 2013, nghề dệt chiếu thủ công truyền thống ở Định Yên và Định An được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Chia sẻ về những thuận lợi và khó khăn của nghề làm chiếu trăm năm này, ông Nguyễn Văn Sang - Phó Chủ tịch UBND xã Định Yên - cho biết những năm trước đây, mặt hàng chiếu được sản xuất ở xã bán rất chạy, đặc biệt là xuất khẩu sang thị trường Campuchia, nên người dân phấn khởi sản xuất. Thế nhưng, kể từ thời điểm dịch bệnh Covid-19 bùng phát thì mặt hàng này ít nhiều cũng bị ảnh hưởng.

"Tới đây, việc kiểm soát và khống chế dịch bệnh trở lại bình thường thì mặt hàng này sẽ tiếp tục vươn xa hơn nữa. Chúng tôi sẽ đề xuất lên huyện và tỉnh để có chính sách hỗ trợ làng nghề trong thời điểm gặp khó khăn, đặc biệt là những hộ nghèo không có khả năng mua máy dệt, còn sử dụng khung dệt thủ công bằng tay. Khuyến khích một số hộ dệt chiếu thủ công, nhằm lưu giữ lại truyền thống quý báu của nghề dệt chiếu có từ lâu đời gắn với phát triển ngành du lịch tại địa phương và quảng bá thương hiệu làng chiếu Định Yên" - ông Sang nói.

Tổng hợp từ Hậu Duệ VNCH Võ Thị Linh 24.03.2021

  HOẠT ĐỘNG TẠI 4 PHI TRƯỜNG NGA Ở THỦ ĐÔ MOSCOW BỊ TẠM ĐÌNH CHỈ VÌ UAV CỦA UKRAINE TẤN CÔNG Artikel von WELT, ngày 23-10:   Hoạt động bay t...